Trang chủ / Kiến thức

Liệu pháp tế bào gốc trung mô trong điều trị tiểu đường tuýp 2

Theo các nhà nghiên cứu, tiểu đường hiện nay đang trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh tiểu đường (thống kê của Bộ y tế năm 2018) và dự báo tăng lên khoảng 6,1 triệu vào năm 2040. Khoảng 85% người chỉ phát hiện ra bệnh khi có biến chứng nguy hiểm như suy thận, tim mạch và tiến đến giai đoạn tuýp 2.

Hiện nay để điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2, các nhà khoa học đã nghiên cứu và ứng dụng phương pháp tế bào gốc trung mô với nhiều kết quả tiềm năng. Hãy tìm hiểu bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng như ưu điểm vượt trội của tế bào gốc trung mô trong việc điều trị căn bệnh này.

1. Bệnh tiểu đường tuýp 2 là gì?

Tiểu đường (đái tháo đường) là một bệnh rối loạn chuyển hóa mãn tính, trong đó cơ thể không sử dụng được glucose do thiếu hụt sản xuất insulin, không sử dụng được insulin hoặc bao gồm cả 2 tình trạng này.

Bình thường cơ thể lấy năng lượng từ các thành phần glucose, protein, lipid. Trong đó glucose cung cấp nguồn năng lượng chính cho các tế bào, cho não, cơ…hoạt động. Nhưng muốn sử dụng được glucose thì cần phải có insulin. Insulin là một hormone do tuyến tụy nội tiết sản xuất ra. Insulin giúp cho đường (glucose) từ máu di chuyển vào tế bào, từ đó chuyển hóa và tạo ra năng lượng

Vai trò của Insulin trong việc điều tiết lượng đường trong máu

Tiểu đường gồm có 2 loại là tiểu đường tuýp 1 và tiểu đường tuýp 2. Tiểu đường tuýp 2 là bệnh mà có sự đề kháng insulin, có nghĩa là cơ thể sử dụng rất kém insulin (mặc dù insulin vẫn tiết ra). Phản ứng tự nhiên của cơ thể là sẽ càng tăng tiết insulin trong giai đoạn đầu, đến một lúc nào đó tế bào beta đảo tụy suy giảm chức năng, không thể tiết insulin đầy đủ, lúc đó cần phải cung cấp insulin ngoại sinh cho cơ thể. Trước đây tiểu đường tuýp 2 được gọi là tiểu đường không phụ thuộc insulin, nhưng hiện nay nó không còn thực sự đúng nữa. Vì như đã trình bày, đến một thời điểm vẫn phải cung cấp insulin ngoại sinh cho cơ thể.

2. Những diễn tiến của bệnh tiểu đường tuýp 2

Nếu như ở tiểu đường tuýp 1, hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào beta trong tuyến tụy nơi tạo ra insulin. Khi tế bào beta bị mất đi sẽ làm hụt mức insulin để điều chỉnh chính xác mức độ đường. Kết quả mức độ đường cao trong máu dẫn đến việc phá hủy hệ thần kinh, thận, mắt và những cơ quan nội tạng khác thì ở tiểu đường tuýp 2, các tế bào trong cơ thể trở nên phản kháng lại insulin. Chúng không phản ứng tốt với insulin được giải phóng ra từ các tế bào beta.

Tế bào beta sản sinh nhiều insulin để thông báo tín hiệu cho các tế bào khác, nhưng kết quả lại không thể bù đắp lượng đường. So với tiểu đường loại 1, mức độ đường máu cao ở tiểu đường loại 2 có thể gây ra các phá hủy nghiêm trọng cho cơ thể. Khả năng mắc bệnh tiểu đường loại 2 gia tăng ở nhóm tuổi trên 45, tuy nhiên tầng lớp trẻ cũng đang có dấu hiệu gia tăng loại này. Chính vì các yếu tố về gen, béo phì, không tập thể dục thể thao là nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh tiểu đường loại 2.

Diễn tiến tiểu đường tuýp 1 và tiểu đường tuýp 2

3. Biến chứng của bệnh tiểu đường tuýp 2

3.1. Biến chứng cấp tính

Biến chứng cấp tính thường gặp ở tiểu đường tuýp 2 đó chính là hôn mê tăng áp lực thẩm thấu. Biểu hiện là tình trạng này là khát nước, mệt mỏi, khô da, tụt huyết áp, mạch nhanh, chuột rút, rối loạn ý thức (ngủ gà, lơ mơ, hôn mê). Những biểu hiện có thể tiến triển từ vài ngày đến vài tuần và cần phải điều trị kịp thời.

Biến chứng của bệnh tiểu đường tuýp 2

3.2. Biến chứng mạn tính

Những biến chứng của bệnh tiểu đường tuýp 2 bao gồm:

– Nhìn mờ (do đục thủy tinh thể, biến chứng võng mạc)

– Tê bì dị cảm ở bàn chân (biến chứng thần kinh)

– Đau ngực thường không điển hình (do biến chứng mạch vành)

– Bị đau cách hồi ở chi dưới do biến chứng mạch máu, đau khi đi lại, đỡ khi nghỉ). Ngoài ra còn có thể teo cơ, da khô, chi lạnh, thậm chí nặng có thể hoại tử khô các ngón chân, nguy cơ cắt cụt, tháo ngón.

– Loét, nhiễm trùng bàn chân

– Chậm tiêu, khó nuốt, đầy bụng (biến chứng thần kinh tự động gây liệt thực quản, dạ dày)

4. Phòng ngừa và điều trị tiểu đường tuýp 2

Nếu thực hiện các thói quen sinh hoạt và ăn uống lành mạnh kết hợp những biện pháp pháp phòng ngừa dưới đây sẽ giúp bạn phần nào hạn chế được căn bệnh này.

– Thực hiện chế độ ăn lành mạnh: Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả, hạn chế thức ăn dầu mỡ, mỡ động vật.

– Tập thể dục đều đặn: Béo phì, thừa cân là một trong những nguyên nhân quan trọng gây bệnh tiểu đường type 2. Vì thế tập thể dục đều độ để kiểm soát cân nặng sẽ giúp bạn phòng ngừa ít nhiều căn bệnh này. Mỗi ngày, bạn hãy dành ít nhất 30 phút để luyện tập với môn thể thao phù hợp và tập với cường độ hợp lý

– Giảm lượng thức ăn có hàm lượng chất bột, đường cao: Bạn nên ăn các loại đường phức với chỉ số đường huyết thực phẩm GI thấp, chẳng hạn như các loại hạt, các loại ngũ cốc nguyên hạt, đậu, đỗ. Khi ăn những thực phẩm này, thời gian tiêu hóa kéo dài, lượng đường đều đặn được hấp thu vào cơ thể một cách chậm chạp, giúp điều hòa insulin và đường huyết, từ đó phòng ngừa nguy cơ mắc tiểu đường type 2.

– Một số phương pháp khác giúp phòng ngừa tiểu đường tuýp 2 có thể là: Kiểm soát huyết áp, điều trị các rối loạn chuyển hóa khác như rối loạn lipid máu.

5. Tế bào gốc trung mô trong điều trị tiểu đường tuýp 2

Theo Hiệp hội liệu pháp tế bào quốc tế (ISCT), tế bào gốc trung mô (MSC) là quần thể tế bào gốc trưởng thành đa tiềm năng, sở hữu các đặc tính đặc trưng như: khả năng biệt hóa thành những loại tế bào nhất định (xương, sụn, mỡ) để cấu thành nên các mô, cơ quan của một cơ thể sinh vật; khả năng điều biến miễn dịch. Qua các nghiên cứu, người ta nhận thấy MSC có nhiều cơ chế trong điều trị ĐTĐ type 2, trong đó tập trung ở 4 cơ chế chính sau:

Cơ chế phân tử của hoạt động của tế bào gốc trung mô – MSCs

– Sự biệt hóa thành IPCs (tế bào tiết insulin)

Khả năng biệt hóa thành các IPCs coi là cơ chế tiên quyết bởi vì MSCs cải thiện sự gia tăng đường huyết (hyperglycemia) của bệnh tiểu đường loại 2. Sự phân hóa của các nang nội tiết (endocrine compartment) của tuyến tụy được kiểm soát bởi các nhân tố phiên mã chính (Pdx-1, Ngn-3, Neu- roD1, Pax4, và Pax6). Việc tái lập trình chính xác của các tế bào để kích hoạt những phản ứng sinh hóa này (là cần thiết cho quá trình biệt hóa của MSCs thành IPCs.

Các nghiên cứu trước đây cho thấy có nhiều cách thúc đẩy quá trình biệt hóa của MSCs thành IPCs. Các tế bào gốc trung mô từ tủy sống (BM-MSCs) biệt hóa thành IPCS bằng cách sử dụng một đoạn mã trên chuột Pdx-1. Bên cạnh đó, nghiên cứu khác sử dụng 3 bước biệt hóa (three-step differentiation protocol), kết quả là những tế bào thu được có khả năng tiết ra insulin. Ngoài ra, nhà khoa học còn thành công trong việc sử dụng tế bào gốc biệt hóa thành IPCs thông qua stepwise culture protocol và chứng minh được rằng những IPCs biệt hóa cũng có những chức năng như tế bào beta thông thường.

– Thúc đẩy sự tái sinh của các tế bào beta ở đảo tụy (pancreatic islet beta cells)

MSC còn có khả năng thúc đẩy sự tái tạo của tế bào tiền thân beta bằng cách di cư tới vùng tụy đảo có tế bào bị tổn thương. Thực hiện quá trình này, MSC sẽ tiết ra nhiều loại cytokines và nhân tố phát triển sau một hay nhiều lần ghép MSC; tạo ra một vi môi trường mà nhờ đó các tế bào tiền thân nội sinh sẽ tăng sinh và biệt hoá thành tế bào beta trưởng thành, giúp điều hòa đường huyết.

– Bảo vệ tế bào beta nội sinh (endogenous pancreatic islet beta cells)

MSC có đặc tính điều hoà miễn dịch và được biết đến như một tế bào có ưu thế về miễn dịch khi biểu hiện thấp MHC lớp II và các phân tử đồng kích thích (MHC là phân tử tương hợp mô giúp nhận biết tế bào lạ và quen trong cơ thể người). Là một thành phần chính của miễn dịch thu được, lympho T đóng vai trò quan trọng trong các bệnh tự miễn và phản ứng thải ghép. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, MSC ức chế sự tăng sinh lympho T bằng cách ức chế sự chuyển hoá năng lượng của lympho T, thúc đẩy sự dung nạp lympho T hoặc làm tăng số lượng T điều hoà (được biết đến như một loại tế bào ức chế lympho T hoạt động, là một phân lớp của lympho T giúp điều hoà hệ miễn dịch, duy trì sự dung nạp của tự kháng nguyên và ngăn chặn các bệnh). Hơn nữa, MSC còn có khả năng ức chế sự tăng sinh lympho B và giảm các chức năng của các tế bào miễn dịch khác như: T gây độc, tế bào tiêu diệt tự nhiên và các cytokines hay các phân tử có chức năng miễn dịch. Chính hiệu quả ức chế miễn dịch trên các tế bào miễn dịch làm giảm nhẹ quá trình tự miễn, dẫn tới sự phá huỷ tế bào beta tuyến tụy.

– Giảm sự đề kháng insulin (peripheral tissues)

Rối loạn chức năng tiết insulin và đề kháng insulin là 2 tình trạng cùng tồn tại song song ở bệnh nhân ĐTĐ type 2. Do đó, việc điều trị hiệu quả ĐTĐ type 2 không thể chỉ bằng khôi phục hay cải thiện sự sản xuất insulin của tuyến tụy. Sự đề kháng insulin hiện nay được xem có quan hệ chặt chẽ với tình trạng viêm mức độ thấp toàn thân. Cytokines và các chất hóa hướng động như tumor necrosis factor alpha (TNF-α), interleukin-1 beta (IL-1β) được sản xuất bởi đại thực bào tại mô mỡ trong pha M1 tiền viêm được xem như là các yếu tố chủ yếu để khởi động quá trình viêm và khuếch đại sự đề kháng insulin. Phân tử kháng viêm từ đại thực bào gọi là M2 được chứng minh có tác dụng giảm sự đề kháng insulin. MSC có khả năng biểu hiện hiệu quả kháng viêm bằng cách chuyển phân cực đại thực bào từ M1 sang M2.

Trên thế giới, MSC đã được chứng minh có hiệu quả trong việc ổn định đường huyết bằng cách khôi phục chức năng tuyến tụy và giảm sự đề kháng insulin trên mô hình động vật. Các kết quả từ nghiên cứu trên mô hình này đang được chuyển dịch thành các thử nghiệm lâm sàng. Có khoảng hơn 200 thử nghiệm lâm sàng liên quan sử dụng MSC trong điều trị ĐTĐ được đăng ký trên trang http://www.clinicaltrials.gov. Trong số đó, có khoảng hơn 80 thử nghiệm lâm sàng đã hoàn thành và báo cáo.

Tế bào gốc trung mô – Giải pháp tiềm năng hỗ trị điều trị tiểu đường

Việc ứng dụng MSC trong điều trị bệnh ĐTĐ được xem như là một bước đột phá lớn và mở ra niềm hy vọng cho bệnh nhân ĐTĐ. Hiện nay tại Việt Nam, liệu pháp tế bào gốc trung mô đã có mặt tại Bệnh viện Quốc tế DNA cùng với hệ thống phòng LAB đạt chuẩn GMP-WHO. Liệu pháp tế bào gốc mở ra cơ hội lớn để khắc phục các biến chứng nghiêm trọng của bệnh, góp phần tăng cường hệ miễn dịch và sớm đưa bệnh nhân trở về với cuộc sống bình thường.

Để tìm hiểu thêm về liệu pháp tế bào gốc trung mô trong điều trị tiểu đường, mời bạn liên hệ theo thông tin dưới đây để được các bác sĩ tư vấn miễn phí:

  • Bệnh Viện Quốc Tế DNA
  • Hotline: 1900 2840​
  • Facebook: facebook.com/benhvienquoctedna
  • Email: info@benhvienquoctedna.vn​
  • Địa chỉ: 1015 Trần Hưng Đạo, Phường 5, Quận 5, TP.HCM

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Tắt Quảng Cáo [X]