Trang chủ / Chống lão hóa, Cơ xương khớp

Liệu pháp tế bào cho phụ nữ mãn kinh

Tuổi thọ trung bình đang tăng dần do sự phát triển công nghệ kỹ thuật trong y khoa, công nghiệp và khoa học. Tuổi thọ ở phụ nữ thường cao hơn đàn ông, tuổi thọ trung bình của phụ nữ Hàn Quốc là 85.5 tuổi theo số liệu ở năm 2014. Do đó, tỉ lệ bệnh tật liên quan tới lão hóa ở phụ nữ cũng tăng theo. Đặc biệt, loãng xương hậu mãn kinh, bệnh lý chính thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, là một bệnh lý nguy cơ cao làm suy giảm độ chắc của xương và gây dễ gãy xương.

Hiện tại, đa số các thuốc dành cho loãng xương hậu mãn kinh có tác dụng ức chế sự hủy xương nhưng cũng đi kèm các tác dụng phụ, loại được sử dụng phổ biến nhất là bisphosphonate đường uống và tiêm tĩnh mạch như: alendronate, ibandronate, risedronate và zoledronate. Tuy nhiên, ngoài tác dụng và độ an toàn đã được kiểm chứng, các tác dụng phụ như tác dụng trên đường tiêu hóa trên, giảm chức năng thận, sốt, hoại tử xương hàm, viêm màng bồ đào và rung nhĩ đã được báo cáo, cho nên sử dụng các thuốc này cũng có các mặt giới hạn. Tuy nhiên, các sản phẩm từ liệu pháp tế bào có thể là một loại trị liệu mới làm giảm các tác dụng phụ của các thuốc thường dùng. Sau đây là tổng quan về lịch sử nghiên cứu và phát triển của liệu pháp tế bào và các vấn đề cho đến hiện tại.

Sự phát triển của các liệu pháp tế bào cho điều trị loãng xương hậu mãn kinh

Năm 1976, Friedenstein chứng minh khả năng tồn tại của tế bào gốc trung mô trong tủy xương. Những năm 1990, kỹ thuật biệt hóa tế bào gốc trung mô từ tủy xương người thành tế bào tạo xương được thiết lập và đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng kỹ thuật này. Ngoài ra cũng có các nghiên cứu khác sử dụng tế bào gốc trung mô từ các mô khác trong cơ thể để tạo xương. Dù vậy, việc ứng dụng các biện pháp này trong lâm sàng vẫn còn ở giai đoạn sớm

tai-sao-nu-gioi-co-nguy-co-thoai-hoa-khop-gap-2-lan-nam-gioi

Kỹ thuật và nguyên lý của các sản phẩm liệu pháp tế bào trong loãng xương hậu mãn kinh

Kỹ thuật hoạt hóa sự biệt hóa của tế bào gốc trung mô thành tế bào sụn hoặc tế bào mỡ đã được phát triển. Biệt hóa từ tế bào gốc trung mô thành tế bào tạo xương bị giảm mà không cần yếu tố nuclear factor 1-C (NF1C). Sự tạo xương và mật độ xương cũng bị giảm vì sự tăng lên của tế bào gốc trung mô biệt hóa thành tế bào mỡ. Loãng xương hậu mãn kinh có thể được điều trị bằng cách kiểm soát các gene và thúc đẩy sự biệt hóa tế bào tạo xương. Khi kiểm soát gene của tế bào gốc, các yếu tố tăng trưởng nội môi, tín hiệu từ chất tiết tế bào (cytokine) và chất tiết nội tiết (endocrine) là cần thiết cho sự tạo xương. Các gene tiêu biểu cho điều trị bệnh lý về xương là các gene thúc đẩy biệt hóa thành tế bào tạo xương và tỉ lệ sống của các tế bào này, tạo thành các protein tổng hợp cấu trúc chất nền ngoại bào và tăng cương hấp thu khoáng chất. Việc tái tổ hợp gene được thực hiện bằng các vector chuyển gene từ virus.

Các kỹ thuật mới để điều trị loãng xương hậu mãn kinh bằng cách kích hoạt tế bào gốc được phát minh trong thời gần đây. Mật độ xương tăng lên bằng cách kích hoạt tế bào gốc trung mô với Velcade, chất ức chế proteasome, một loại thuốc điều trị các rối loạn về xương. Nghiên cứu này sử dụng cơ chế hồi phục, không phải bằng cách truyền tế bào gốc vào cơ thể đã được thiết lập từ trước mà dùng cách kích hoạt các tế bào gốc tồn tại sẵn trong mô. Việc sử dụng các chất có khả năng tác dụng trúng đích lên tế bào gốc là một kỹ thuật hữu ích mang tính đột phá. Nhưng việc tìm các tế bào gốc có thể là đích hoặc các chất không hoặc ít độc tính vẫn đang là vấn đề cần giải quyết.

Các thuốc điều trị hiện tại cho loãng xương hậu mãn kinh có các hạn chế do đích đến là các tế bào đã biệt hóa như tế bào tạo xương hoặc tế bào hủy xương. Khi ức chế sự hủy xương thì sự tạo xương cũng bị ảnh hưởng, các nghiên cứu gần đây đã phát hiện sử dụng nhóm bisphosphonate dẫn đến hoại tử xương hàm. Bằng cách kiểm soát sự biệt hóa của tế bào gốc, việc điều trị mất xương ở giai đoạn hậu mãn kinh sẽ có hiệu quả tốt hơn, phát triển liệu pháp tế bào cho xương, đồng thời có ít tác dụng phụ và ít gây đau hơn.

Có rất nhiều các nghiên cứu trên mô hình động vật báo cáo việc điều trị bằng cách cấy tế bào gốc từ tủy xương cho các bệnh của hệ cơ xương khớp như nối liền đốt sống, viêm khớp và tái cấu trúc tổn thương xương sọ, tổn thương sụn khớp và tổn thương dây chằng. Tuy nhiên, các nghiên cứu lâm sàng về ghép tế bào gốc tủy xương ở người còn hạn chế, ngoại trừ trên bệnh nhân hoại tử vô mạch chỏm xương đùi.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ phát triển công nghệ này như thiếu các kỹ thuật tinh chế và tăng sinh tế bào gốc trung mô, số lượng nghiên cứu hạn chế về cơ chế biệt hóa của tế bào gốc trung mô thành tế bào sụn và tế bào mỡ, và sự hạn chế của các nghiên cứu lâm sàng trên người. Do đó, để cải thiện chất lượng cuộc sống ở các phụ nữ lớn tuổi cũng như phụ nữ mãn kinh, các bác sĩ có thể cân nhắc áp dụng các kỹ thuật liệu pháp tế bào, đồng thời cập nhật các nghiên cứu mới trong lĩnh vực mãn kinh.

Lược dịch từ nghiên cứu tổng quan của Choi và cộng sự: Cell Therapy Products in Menopausal Medicine. J Menopausal Med.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM