Tế bào gốc trung mô nào được sử dụng phổ biến nhất hiện nay?

Tế bào gốc gồm có nhiều loại, trong đó tế bào gốc trung mô là loại được ứng dụng và sử dụng nhiều nhất trong điều trị vì có nhiều tiềm năng. Vậy trong các loại tế bào gốc trung mô, đâu là loại được sử dụng nhiều hơn cả?

Tế bào gốc trung mô nào được sử dụng nhiều?

Loại tế bào gốc nào được sử dụng nhiều nhất?

Tế bào gốc trung mô (MSC) là 1 trong 5 loại tế bào sử dụng nhiều nhất trong cấy ghép. Thông thường, MSC được sử dụng nhiều nhất là 5 loại:

  • MSC máu cuống rốn
  • MSC nhau thai
  • MSC tủy xương
  • MSC mô mỡ

Trong đó, tế bào gốc trung mô từ mô mỡ, hay còn gọi là ADSC được sử dụng phổ biến nhất với nhiều ưu điểm: thu nhận xâm lấn tối thiểu, nguồn thu nhận sạch, sẵn có ở bất kì lứa tuổi nào, tế bào dễ nuôi và tăng sinh nhanh, tiềm năng biệt hóa đa dạng.

Trong điều trị, tế bào gốc trung mô thu từ mỡ có khả năng biệt hóa thành:

  • Mỡ: ứng dụng tái cấu trúc mô mềm của phổi sau khi phẫu thuật khối u, điều trị khiếm khuyết mô mềm dưới da, bỏng
  • Sụn: ứng dụng sửa chữa sụn ở khớp, khiếm khuyết đĩa đệm cột sống, khiếm khuyết sụn ở tai và mũi
  • Xương: ứng dụng phục hồi xương bị khiếm khuyết do di truyền hay bệnh lý
  • Cơ tim: ứng dụng phục hồi cơ tim sau nhồi máu, suy tim
  • Mạch máu: ứng dụng tân tạo mạch trong các bệnh lý thuyên tắc mạch
  • Thần kinh: ứng dụng điều trị tổn thương não, tổn thương thần kinh ngoại biên do bệnh lý hay chấn thương, chấn thương cột sống có liệt tủy
  • Tuyến tụy: ứng dụng điều trị đái tháo đường
  • Gan: ứng dụng điều trị viêm gan mạn tính, xơ gan

Quy trình tách chiết tế bào gốc trung mô từ mô mỡ:

Thu mỡ bằng cách hút hoặc cắt từ khối mỡ ở vùng bụng bệnh nhân

Bước 1: Xử lý bộ mẫu

Hút 100ml mỡ cho trực tiếp vào bình dạng phễu. Nếu là dạng khối mỡ nguyên, dùng kéo cắt nhuyễn rồi cho vào bình dạng phễu tương tự như mỡ hút.

Bước 2: Rửa mẫu bằng WB1 (2 lần)

Nhỏ 50ml WB1 vào bình mỡ. Sau đó cho bình vào máy ly tâm 400g trong vòng 5 phút. Sau khi ly tâm, thu được bình mỡ có phần dung dịch rửa lắng ở phía dưới. Tiếp tục hút phần dịch rửa này ra để còn lại trong bình chỉ là mỡ ban đầu.

Bước 3: Rửa mẫu bằng WB2 (2 lần)

Nhỏ 50ml WB2 vào bình mỡ. Tiếp tục cho bình vào máy ly tâm 400g trong 5 phút. Khi ly tâm xong, lặp lại bước hút bỏ phần dung dịch rửa bên dưới ra.

Bước 4: Phân tách mẫu

Thêm 20ml WB3 vào lọ Super Extract (SE). Tổng thể tích 30ml dung dịch trong bình gồm: 10ml SE và 20ml WB3. Kế đến, cho toàn bộ 30ml (SE+WB3) vào bể ổn nhiệt ủ ở nhiệt độ 37 độ C trong 30 phút. Sau mỗi 5 phút lấy ra lắc đều.

Bước 5: Thu nhận tế bào

Thêm 50ml WB3 vào bình mỡ, cho bình vào máy ly tâm 800g trong 10 phút. Sau ly tâm, thu được bình mỡ có phần mỡ vàng chiếm trên 70%, còn lại là mô mỡ thừa và cặn tế bào. Tiếp theo, loại bỏ dịch nổi và mô mỡ thừa, thu được cặn tế bào ở dưới đáy.

Bước 6: Rửa tế bào với WB3

Thêm 30ml WB3 vào bình mỡ, lắc đều rồi cho vào máy ly tâm 800g trong 5 phút. Sau đó, loại dịch nổi, thu cặn tế bào. Phần cặn này sẽ được xác định số lượng phần trăm sống/ chết, đem cấy ghép hoặc nuôi cấy tăng sinh.

Tế bào gốc tiếp cận và sửa chữa tổn thương bằng cách nào?

Tế bào gốc tiếp cận và sửa chữa tổn thương bằng cách nào?

Quá trình di chuyển đến vị trí tổn thương của tế bào gốc nhờ việc thu nhận các tín hiệu từ các cytokine, phân tử bám dính và các yếu tố tăng trưởng cần thiết được tiết ra bởi các tế bào hay vùng mô bị hư hại. Cytokine là các protein không phải kháng thể được sản xuất bởi các tế bào bạch cầu viêm và một số tế bào khác không phải bạch cầu. Chúng hoạt động trong vai trò là các chất trung gian và còn có nhiệm vụ điều hòa các quá trình miễn dịch.

Khi tiếp nhận tín hiệu cytokine và một loạt các tín hiệu khác tại vùng mô bị tổn thương, tế bào gốc sẽ sản xuất lượng lớn yếu tố tăng trưởng để thực hiện chức năng tái sinh, sửa chữa. Tại đây, chúng sẽ tiếp tục tăng sinh để cung cấp nguồn tế bào gốc mới, tham gia biệt hoá thành những tế bào có chức năng, từ đó thay thế và lấp đầy những tế bào bị hư hỏng.

Ngoài ra, tế bào gốc còn thực hiện các chức năng:

  • Điều hoà hệ miễn dịch, giảm phản ứng viêm
  • Giúp tế bào khác tăng sinh và sống mạnh mẽ
  • Kích thích các mạnh máu mới phát triển ở các vùng bị huỷ hoại, nhằm cung cấp thêm chất dinh dưỡng và oxy
  • Huy động những tế bào nội sinh khác đang tuần hoàn trong máu, đến tham gia sửa chữa tổn thương

Tế bào gốc biệt hóa thành các tế bào có chức năng như thế nào?

Tế bào gốc biệt hóa thành các tế bào có chức năng như thế nào?

Một trong những chức năng của tế bào gốc trong điều trị bệnh là khả năng biệt hoá thành một số tế bào có chức năng để thay thế và lấp đầy vùng mô bị tổn thương.

Tế bào gốc có 3 cơ chế hoạt động chính:

  • Một tế bào gốc nhân lên thành hai tế bào gốc con giống hệt nhau và giống hệt tế bào gốc ban đầu
  • Một tế bào gốc ban đầu nhân lên thành hai tế bào, trong đó có một tế bào con giống hệt tế bào gốc mẹ ban đầu, tế bào con còn lại sẽ biệt hóa thành tế bào chức năng
  • Tế bào gốc ban đầu sẽ biệt hóa để trở thành tế bào chức năng

Sự biệt hóa hay giữ nguyên tính chất ban đầu của tế bào gốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có sự tương tác giữa tế bào với tế bào hay tế bào với môi trường bao quanh nó.

Một trong những cách mà tế bào gốc có thể biệt hoá thành các tế bào có chức năng là do sự tiếp nhận các tín hiệu từ vùng mô bị tổn thương. Các tín hiệu này có tác động đáng kể tới việc đóng mở các gen liên quan đến khả năng biệt hoá của tế bào. Chính nhờ đặc tính này mà tế bào gốc sẽ được huy động đến đúng vị trí tổn thương, tiếp tục tăng sinh và biệt hoá thành tế bào có chức năng để thay thế và bù đắp số lượng tế bào thiếu hụt.

Nguồn: Báo cáo Phân tích xu hướng công nghệ, Chuyên đề Tế bào gốc và tiềm năng ứng dụng của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ TP.HCM (8/2013)

Đăng ký tư vấn
1900 2840
0906 95 79 95
0903 76 18 76

Đặt lịch hẹn

Tư vấn miễn phí